Phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Phát triển kinh tế - xã hội không chỉ đòi hỏi chính sách đúng hướng, mà còn cần những giải pháp thị trường thiết thực để đưa sản phẩm bản địa vươn xa.
TS. Trịnh Thị Thanh Thuỷ , NCVCC, Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương

Thực trạng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) ở nước ta là địa bàn chiến lược, trải dài và chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó có cả các khu vực biên giới với 3 quốc gia láng giềng - cũng là các quốc gia trong hợp tác Lan Thương - Mekong. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nơi sinh sống của 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với quy mô dân số hơn 14% dân số cả nước, cư trú phân tán, xen kẽ, với những đặc điểm riêng biệt về địa lý, tự nhiên, kinh tế và xã hội. Địa hình của vùng chủ yếu là đồi núi, trung du và cao nguyên, địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhiều vùng hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn hơn so với vùng đồng bằng.

Là vùng có độ che phủ rừng cao, giữ vai trò “lá phổi xanh” và vùng đầu nguồn nước cho cả nước, nhưng cũng rất nhạy cảm với thiên tai, biến đổi khí hậu và nguy cơ suy thoái môi trường. Với khí hậu phân hóa theo vĩ độ, độ cao và hướng sườn núi, một số khu vực có khí hậu khắc nghiệt (mưa nhiều, rét đậm, hạn hán, sương muối). Tuy nhiên, Vùng DTTS &MN là vùng giàu tài nguyên rừng, khoáng sản (than, bô-xít, đồng, sắt…), tiềm năng thủy điện lớn, đất đai đa dạng (đất đỏ bazan Tây Nguyên, đất feralit trung du miền núi phía Bắc).

Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần những giải pháp thị trường thiết thực để đưa sản phẩm bản địa vươn xa, tạo sinh kế bền vững.

Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần những giải pháp thị trường thiết thực để đưa sản phẩm bản địa vươn xa, tạo sinh kế bền vững.

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giàu bản sắc văn hóa truyền thống, nhiều phong tục tập quán đặc thù, là kho tàng di sản phi vật thể quý giá và cũng là vùng phên dậu của Tổ quốc. Tuy nhiên, tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội vẫn còn hạn chế, một số hủ tục lạc hậu, tảo hôn, hôn nhân cận huyết, di cư tự do còn tồn tại, gây khó khăn và cản trở phát triển bền vững.

Nhiều nơi vẫn trong tình trạng kinh tế chậm phát triển, chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp, tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường chưa thực sự phát triển và lan toả rộng rãi. Lực lượng lao động chủ yếu tham gia nông nghiệp và lâm nghiệp, kỹ năng nghề và trình độ học vấn còn thấp, tỷ lệ mù chữ và bỏ học ở một số nơi vẫn cao. Thu nhập và mức sống bình quân thấp hơn so với mặt bằng cả nước, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là hộ nghèo đa chiều. Về mô hình sản xuất hàng hoá và phát triển kinh tế thị trường vẫn còn khoảng cách với các vùng miền khác trên cả nước.

Những đặc thù về điều kiện tự nhiên, địa lý, khí hậu, tài nguyên và thổ nhưỡng, cùng phong tục tập quán và văn hoá Vùng DTTS&MN đã tạo nên đặc điểm sản xuất, sản phẩm và thị trường của Vùng, với nhiều sản phẩm mang tính đặc sản vùng miền, sau này được nhân rộng sản xuất trở thành sản xuất hàng hoá đặc sản không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu tới nhiều thị trường ngoài nước.

Rất nhiều sản phẩm hàng hoá chinh phục thị trường và mang lại nhiều giá trị cho bà con Vùng DTTS&MN, có thể kể đến là: Chè Shan tuyết (Lào Cai), Quế - Hồi (Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Nam), Dược liệu dưới tán rừng (thảo quả, sa nhân, sâm Ngọc Linh…), Cà phê (Đắk Lắk, Lâm Đồng…), sầu riêng (Đắk Lắk, Lâm Đồng), sâm Ngọc Linh (Quảng Nam), thạch đen (Cao Bằng, Lạng Sơn…), gạo, hạt tiêu, hạt điều, maca, cao su, ớt, sắn lát, mật ong, nấm… cùng các loại quả tươi như bơ, vải, nhãn, chôm chôm, xoài, mận, mít, thanh long, dưa hấu, chanh dây, chuối, mãng cầu, vú sữa, hay các sản phẩm chăn nuôi như gà, vịt, dê, lợn, trâu, bò, ngựa, các loài thuỷ sản… Bên cạnh đó, là rất nhiều sản phẩm hàng hoá nông, lâm sản mang tính thời vụ cũng được cung ứng và được thị trường đón nhận.

Mở rộng thị trường là động lực then chốt giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển kinh tế - xã hội, tạo sinh kế ổn định, bền vững.

Mở rộng thị trường là động lực then chốt giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển kinh tế - xã hội, tạo sinh kế ổn định, bền vững.

Trong quá trình sản xuất và cung ứng các sản phẩm hàng hoá của Vùng DTTS&MN ra thị trường, đã hình thành các chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng hoá không chỉ phục vụ cho sản xuất và đời sống của bà con mà còn giúp tiêu thụ một cách hiệu quả các sản phẩm, đem lại thu nhập và điều kiện cho bà con tái sản xuất. Giấy “thông hành” cho hàng hoá của bà con Vùng DTTS&MN như mã vùng trồng, mã truy xuất nguồn gốc xuất xứ, OCOP và GI - chỉ dẫn địa lý, các dự án sản xuất theo chuỗi giá trị, sản xuất sản phẩm hữu cơ theo lợi thế từng vùng… đã tạo nên nhiều “rổ hàng hoá” tiêu biểu gắn với đặc thù địa phương đang được mở rộng, như vùng Đông Bắc, Tây Bắc (chè Shan tuyết, hồi, quế, thảo quả, sa nhân, mac ca…), Tây Nguyên (cà phê, hồ tiêu, cao su, sầu riêng…), Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ (quế Trà My, sâm Ngọc Linh, quế Trà Bồng…), đã đóng góp quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản của cả nước năm 2024 đạt khoảng 62,4 tỷ USD, và vị thế Top đầu thế giới của một số mặt hàng xuất khẩu như cà phê, hồ tiêu, quế…trong đó kim ngạch xuất khẩu rau quả được dẫn dắt bởi sầu riêng bứt phá mạnh, tạo nên dư địa kéo dịch vụ logistics và chế biến lên miền núi.

Mặc dù chuỗi cung ứng nhiều loại sản phẩm hàng hoá được hình thành và mở rộng, liên kết sản xuất và tiêu thụ cũng ngày càng gắn kết và lan toả cả về ngành hàng và phạm vi địa lý, nhưng những nút thắt trong chuỗi cung ứng cần được giải quyết vẫn đang còn đó. Cụ thể là, giá trị gia tăng của hàng hoá đến với thị trường chưa cao, chất lượng hàng hoá chưa đồng đều (do sản xuất còn manh mún), hàng hoá chưa được chế biến sâu, còn dư lượng chất bảo vệ động, thực vật, và chưa đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, khó truy xuất nguồn gốc xuất xứ… còn khá phổ biến. Sự chung tay, cùng đồng hành, vào cuộc của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nhà khoa học, hiệp hội và nhà quản lý trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của bàn con còn khá lỏng lẻo, thiếu quyết liệt.

Cả cung và cầu hàng hoá tại Vùng DTTS&MN đã định hình cho sự phát triển của các loại thị trường hàng hoá, tài chính, công nghệ, dịch vụ trên địa bàn, tuy nhiên, nhiều sản phẩm hàng hoá của Vùng DTTS&MN có những thời điểm, thời vụ được mùa nhưng tiêu thụ rất khó khăn, thậm chí không được mua – bán trên thị trường, vì giá bán sản phẩm quá rẻ không đủ chi phí thu hoạch, đóng gói, vận chuyển và thậm chí giá bán còn dưới giá thành sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, và nghịch lý “được mùa mất giá, được giá mất mùa” vẫn là điệp khúc qua nhiều thời vụ. Đây là minh chứng rõ nét nhất của nền sản xuất hàng hoá chưa thực sự phát triển theo định hướng thị trường, bộc lộ sự vận hành của cơ chế thị trường (cung và cầu) bị hạn chế, cản trở do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Về khách quan, sản xuất nông, lâm của bàn con DTTS còn phụ thuộc và chịu tác động rất lớn từ thời tiết, khí hậu, thiên tai… sản xuất còn phân tán, manh mún khiến thị trường bị phân mảnh về quy mô, không đồng đều về chất lượng, mẫu mã sản phẩm; Các loại hình hạ tầng kinh tế - kỹ thuật đang từng bước được cải thiện nhờ các chính sách đầu tư của Nhà nước, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do địa hình hiểm trở và nguồn lực hữu hạn.

Cụ thể là: Mạng lưới đường giao thông đã được mở rộng và nâng cấp, nhưng nhiều tuyến đường liên xã, liên thôn vẫn còn khó khăn và đặc biệt khó khăn, nhất là vào mùa mưa hay thời tiết xấu. Nên bà con tiếp cận các trung tâm kinh tế, dịch vụ còn hạn chế, ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân); Về điện lưới, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đã tăng đáng kể, nhưng vẫn còn một số vùng sâu, vùng xa chưa được tiếp cận đầy đủ. Đây là rào cản lớn cho phát triển sản xuất, học tập và cải thiện đời sống; Hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng còn thiếu và chưa đồng bộ, đặc biệt ở các khu vực địa hình cao, dốc, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ diện tích đất canh tác được tưới tiêu vẫn thấp so với cả nước), bà con vùng DTTS&MN chưa được tiếp cận đầy đủ với hệ thống nước sạch sinh hoạt, các dịch vụ viễn thông đã được phủ sóng đến hầu hết các xã, vùng sâu, vùng xa, nhưng chất lượng đường truyền và khả năng tiếp cận internet tốc độ cao còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tiếp cận thông tin và cơ hội học tập, kinh doanh trực tuyến của bà con.

Bên cạnh đó, còn thiếu các dịch vụ logistics, khoa học, công nghệ, dịch vụ dẫn dắt trong chuyển đổi đổi số và chuyển đổi xanh chưa kịp thời, đầy đủ và phù hợp với trình độ phát triển sản xuất, kinh doanh của khu vực; hạ tầng logistics nhất là logistics lạnh, cận thị trường khiến cho sản phẩm nông sản tươi mất lợi thế ra thị trường. Đây cũng chính là những khó khăn, thách thức và rào cản trong phát triển các thị trường ở Vùng này.

Về chủ quan, bà con sản xuất chăn nuôi chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, tập quán, chưa quan tâm đến cân bằng giữa khai thác với bảo tồn và đa dạng sinh học trong khai thác tài nguyên rừng (thảo quả, sa nhân). Sản xuất nặng tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, manh mún, thiếu các điều kiện áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất, chăn nuôi. Sự chuyển đổi tư duy sang sản xuất hàng hoá theo tín hiệu và nhu cầu của thị trường còn khá chậm.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội khu vực đặc thù

Ở nước ta, Vùng đồng bào DTTS&MN là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh – quốc phòng, giàu tiềm năng tài nguyên và văn hóa, song phát triển còn hạn chế, kinh tế kém năng động, đời sống khó khăn. Đây là vùng trọng tâm trong các chính sách phát triển bền vững, giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời cũng là vùng cần tập trung phát triển kinh tế thị trường và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Các chính sách dân tộc ở Việt Nam có tính nhân văn cao cả, chủ yếu là hỗ trợ cho đồng bào (những năm gần đây đã khắc phục yếu tố cho không), nhưng sự quan tâm định hướng, hỗ trợ cho đồng bào làm giàu bằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, thì chính sách còn có khoảng trống dễ tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước.

Vì vậy, để thị trường hàng hoá phát huy vai trò trong thúc đẩy sản xuất hàng hoá (thay cho tự cung, tự cấp); tạo ra các kênh tiêu thụ sản phẩm đặc trưng của Vùng; kích thích đổi mới công nghệ và liên kết sản xuất trong các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị hàng hoá nông, lâm sản; khai thác tiềm năng, thế mạnh của Vùng; tạo sinh kế, việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững; gắn kết các vùng miền, bảo đảm an ninh – quốc phòng. Rất cần các giải pháp phát triển thị trường phù hợp với điều kiện và trình độ của Vùng cũng như bối cảnh phát triển chung của đất nước. Trong đó, thị trường hàng hoá là thị trường cốt lõi, cùng với sự phát triển đồng bộ các thị trường dịch vụ, tài chính, khoa học và công nghệ, du lịch…

Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, các cú shock và thiên tai xảy ra thì các đối tượng chịu thiệt hại nặng nề nhất thường thuộc về nhóm yếu thế và thu nhập thấp, với quốc gia có đặc điểm địa lý đặc thù như Việt Nam, là quốc gia đa dân tộc với đường biên giới trải dài và tập trung chủ yếu tại khu vực miền núi, thì vai trò của việc phát triển kinh tế và thị trường vùng dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng quan trọng và trở nên bức thiết. Đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà khoa học và đặc biệt là sự chủ động tích cực của bà con, để phát triển kinh tế - xã hội Vùng này.

Theo đó, cần thực thi các giải pháp: (1) quy hoạch và tổ chức các vùng sản xuất tập trung, các Vùng trồng được cấp mã số, số hoá truy xuất, đặc biệt là chú trọng áp dụng kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi hữu cơ để vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường, vừa đi xa tới các thị trường ngoài nước (2) đẩy mạnh phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp và chăn nuôi tại vùng DTTS&MN; (3) kết hợp chuẩn hoá và “sâu hoá” trong sản xuất và chế biến để vừa nâng cao giá trị của sản phẩm đồng thời tiếp cận và thâm nhập được vào thị trường ngoại. Đó là, sản xuất, chế biến theo chuẩn VietGap, hữu cơ, chỉ dẫn địa lý; (4) phát triển các mô hình “nông nghiệp - du lịch - văn hoá”, gắn du lịch trải nghiệm với sản phẩm OCOP để vừa mở rộng biên độ cầu, kích thích nguồn cung và định giá các sản phẩm; (5) phát triển kinh tế rừng, siết canh tác dưới tán rừng tự nhiên và tăng cường mô hình nông – lâm kết hợp và dược liệu có kiểm soát, để khai thác tiềm năng, đặc thù của sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp, đồng thời phát triển rừng để gia nhập thị trường tín chỉ Cac bon, giúp bảo vệ môi trường sinh thái và bổ sung nguồn thu nhập cho bà con; (6) phát triển hạ tầng thương mại, hạ tầng logistics, các dịch vụ logistics và các trạm vệ tinh ở vùng cao, biên giới, cửa khẩu, đảm bảo cung ứng các dịch vụ kho, sơ chế, bến bãi, mặt bằng cho giao thương cũng như đảm bảo chất lượng và độ tươi ngon của sản phẩm.

Bình luận

Tin cùng chuyên mục