
Từ sợi đũi thủ công đến giấc mơ thoát nghèo bền vững
Kinh tế nông thôn và miền núi10:17 | 07/08/2025
Đánh thức làng nghề ngủ quên
Ở xã Lê Lợi, tỉnh Hưng Yên (trước đây là xã Nam Cao, tỉnh Thái Bình), đã từng có thời gian, những tiếng lách cách từ khung cửi tre đã từng im bặt suốt nhiều thập kỷ. Làng nghề dệt đũi cổ xưa tưởng chừng đã nằm lại trong ký ức người già, khi thanh niên bỏ quê lên thành phố mưu sinh, người ở lại sống lay lắt với ruộng đồng bạc màu.
Nhưng từ một khoảnh khắc nhỏ, hình ảnh cụ bà hơn 80 tuổi cặm cụi quay tơ bằng đôi tay gầy guộc, giấc mơ hồi sinh nghề cũ đã được nhen lên. Giấc mơ ấy không nằm trong sách vở hay những khẩu hiệu cổ động, mà được chắt chiu từng ngày bởi chị Lương Thanh Hạnh, một người con xứ Thanh, chọn làng Nam Cao làm nơi dựng lại nghiệp đũi, khơi dậy khát vọng thoát nghèo cho hàng trăm hộ dân.

Chị Lương Thanh Hạnh đang giới thiệu cho du khách về sản phẩm lụa đũi. Ảnh: HTX Lụa đũi Nam Cao
Là người sáng lập Hợp tác xã Lụa đũi Nam Cao, chị Hạnh không chỉ tái thiết nghề dệt đũi bằng những khung cửi cũ kỹ và kỹ thuật thủ công truyền thống, mà còn kiến tạo cả một hệ sinh thái nghề bền vững, từ nguyên liệu, nhân lực, đến đầu ra sản phẩm.
Ban đầu, khi đặt chân đến Nam Cao, chị không khỏi xót xa khi thấy nghề truyền thống chỉ còn trong hoài niệm. Chị bắt đầu tìm lại từng nghệ nhân lớn tuổi còn nhớ cách quay tơ, gom từng con suốt, khung cửi. Rồi chị thuyết phục người dân quay lại với nghề bằng một lời hứa đơn giản: “Làm nghề tử tế, rồi nghề sẽ nuôi sống mình”.
Từ một nhóm nhỏ vài người, đến năm 2017, Hợp tác xã Lụa đũi Nam Cao chính thức thành lập. Hàng trăm hộ gia đình trong làng được thu hút tham gia. Đặc biệt, những người phụ nữ trung niên và người cao tuổi, những người vốn khó tiếp cận với thị trường lao động, giờ có thể làm việc tại chỗ với thu nhập ổn định. Người trẻ được đào tạo nghề, có việc làm, không còn phải tha hương. Cả làng nghề như được đánh thức.
Chị Hạnh không dựng lại nghề chỉ để bảo tồn. Mục tiêu của chị là thoát nghèo bền vững, tạo ra sản phẩm thủ công có giá trị cao, đưa đi xuất khẩu, để mỗi mét vải dệt ra không chỉ đủ sống mà còn mở ra cơ hội phát triển. “Giữ nghề là một chuyện. Nhưng để người dân sống được, nuôi con học hành, xây được nhà, thì phải tính chuyện thị trường”, chị nói.
Dệt tơ truyền thống, dệt cả cơ hội đổi đời
Sau khi giữ lại được nghề, những người làm đũi Nam Cao không dừng lại. Họ bắt đầu nghĩ xa hơn, đó là phải xuất khẩu, phải đưa sản phẩm đến với thế giới để nâng giá trị, để nghề thực sự nuôi sống được người dân. Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ dệt vải. Họ học làm thương hiệu, đầu tư bao bì, thiết kế lại sản phẩm cho phù hợp thị hiếu thị trường.
Quan trọng hơn cả là chuẩn hóa quy trình sản xuất 100% thủ công, không hóa chất, thân thiện với môi trường. Nhờ đó, các đơn hàng từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Canada bắt đầu đến. Mỗi tháng, hàng trăm mét vải đũi được xuất khẩu, mang theo câu chuyện về làng nghề nghèo một thời đang tự cứu mình bằng đôi tay cần mẫn.

Những phụ nữ trung niên và người cao tuổi có thể làm việc tại nhà với thu nhập ổn định. Ảnh: HTX Lụa đũi Nam Cao
Không chỉ dừng ở bán hàng, hợp tác xã còn tổ chức tour du lịch làng nghề, cho khách quay tơ, dệt vải, nhuộm màu tự nhiên, nghe kể chuyện làng xưa. Đây là một cách thông minh để tăng nguồn thu, tạo thêm việc làm mà không cần mở rộng sản lượng, đồng thời kết nối cảm xúc giữa người tiêu dùng và sản phẩm, điều quan trọng trong thị trường thủ công cao cấp.
Đặc biệt, chị Lương Thanh Hạnh chia sẻ: “Hợp tác xã chọn con đường khác biệt không bán phá giá, không sản xuất đại trà. Thay vào đó, mỗi sản phẩm được định vị ở phân khúc cao cấp, gắn với câu chuyện văn hoá, điều khiến khách quốc tế trân trọng và sẵn sàng chi trả cao. Những tấm khăn đũi Nam Cao đã được các nhà thiết kế thời trang Nhật, Ý chọn làm chất liệu chính trong các bộ sưu tập. Một sản phẩm làng quê đã bước lên sàn diễn quốc tế”.
Không muốn thành công chỉ dựa vào may mắn, hợp tác xã đã bắt tay xây dựng vùng nguyên liệu, khi phát triển hơn 300 ha đất được chuyển đổi để trồng dâu, nuôi tằm. Một chuỗi sản xuất khép kín dần hình thành, từ hộ dân trồng dâu - hợp tác xã cung ứng giống tằm, đến bao tiêu kén và hoàn thiện vải. Đó là cách làm bài bản để nghề sống lâu, để sản phẩm có truy xuất nguồn gốc, đủ điều kiện hội nhập quốc tế.
Cùng với đó, hợp tác xã phối hợp các trường đại học nông nghiệp, mời chuyên gia chuyển giao kỹ thuật nuôi tằm hiện đại, phù hợp với thổ nhưỡng địa phương. Nhờ vậy, năng suất cao hơn, chất lượng tơ ổn định hơn, giá trị thu mua cho nông dân cũng tốt hơn.
Trong mắt nhiều chuyên gia, lụa đũi Nam Cao đang hội đủ điều kiện để trở thành sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia. Nhưng hơn cả danh hiệu, điều đáng quý nhất chính là việc sản phẩm này đã giúp một vùng quê nghèo chuyển mình. Không cần bê tông hóa nông thôn, không cần phá đồng làm khu công nghiệp, chỉ bằng nghề tổ, cả làng đã tự vực dậy.
Người dân không cần đi đâu xa. Ngay trong căn nhà nhỏ, họ có thể làm ra sản phẩm được bán tới tận Tokyo, Milan hay Dubai. Mỗi sợi tơ là một bước thoát nghèo. Mỗi tấm vải là một cơ hội đổi đời. Và mỗi phiên chợ quốc tế là một lần khẳng định người Việt có thể làm ra sản phẩm đẳng cấp, nếu đi từ gốc, từ đất, từ văn hóa, và từ chính bàn tay người nông dân.
Tin cùng chuyên mục


Người dân Gia Lai giảm nghèo từ mô hình nuôi yến

Nông nghiệp hữu cơ: Mũi nhọn mới trong công cuộc giảm nghèo ở Gia Lai
Đọc nhiều

Vĩnh Long đưa sản phẩm OCOP vào hệ thống siêu thị GO! trên toàn quốc

TP. Cần Thơ tái công nhận 6 sản phẩm OCOP 4 sao
Thúc đẩy tiêu thụ nông sản vùng dân tộc qua thương mại điện tử

TỌA ĐÀM: “Bắc cầu” liên kết, khơi dòng tiêu thụ nông sản vùng cao

